Mùa thu năm 1945, một cơn bão táp cách mạng tràn khắp dải đất hình chữ S, cuốn phăng thành trì của chế độ phong kiến hàng ngàn năm, quét sạch bùn nhơ gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp. Cây thánh giá, cuối cùng đã được đặt lên nấm mồ của chủ nghĩa thực dân, cáo chung sự thống trị của đế quốc phương Tây ở mảnh đất từng được coi là lạc hậu nhất vùng Viễn Đông này.
Nhân danh những nhà “khai sáng”, đế quốc Pháp đã thực hiện tâm địa thực dân đối với các dân tộc nhỏ bé, nhược tiểu, trong đó có vùng đất Đông Dương. Những chuyện bắt bớ vô cớ, tra tấn, hành hạ, giết chóc man rợ như thời trung cổ đối với người dân bản xứ đã được thực hiện bởi những người thi hành “công lý”, những tên đao phủ đội lốt “thầy tu”. Tuy nhiên, tất cả những gì diễn ra ở các vùng đất thuộc địa đều bị che dấu, bưng bít, nhất là đối với nhân dân Pháp.
Lần đầu tiên, có một người dân bản xứ, công khai lên án và tố cáo mạnh mẽ, toàn diện và hệ thống những tội ác ấy, lột tả bản chất tàn ác, vô nhân đạo của chủ nghĩa thực dân, vạch trần cái gọi là “tự do”, “bình đẳng”, lật tẩy cái gọi là “văn minh” mà những tên thực dân đã trương lên dưới cái chiêu bài “khai hóa”.
Người dân bản xứ đó chính là Nguyễn Ái Quốc.
“Bản án chế độ thực dân Pháp” đã được Thư quán Lao động Pari xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Pháp, năm 1925. 12 chương của tác phẩm như một bản luận tội đanh thép đối với tội ác của chế độ thực dân nói chung, thực dân Pháp nói riêng đối với nhân dân các nước thuộc địa. Bằng những bằng chứng cụ thể, sinh động, thuyết phục, với những con người có thật, sự việc có thật, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần hiện thực chết chóc, đau thương do chính những tên đao phủ thực dân gây ra đối với những thân phận nô lệ, dù họ ở vùng đất nào, màu da nào, phương trời nào. Đồng thời, Người cũng luận chứng một cách chắc chắn rằng, với những tội ác man rợ ấy, chủ nghĩa thực dân không thể có lý do tồn tại như một thực thể hợp pháp được.
Không dừng lại ở sự tố cáo, Nguyễn Ái Quốc đã kiên cường, bền bỉ, nỗ lực không mệt mỏi để chấm dứt sự tồn tại của bộ máy thực dân tàn ác ở các vùng đất thuộc địa. Khát vọng lớn lao nhằm xóa bỏ ách áp bức của chế độ thực dân, giải phóng bao sinh linh lầm than, cơ cực đã thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng hiện thực hóa con đường Cách mạng vô sản trên quê hương của Người. Chính Người đã khơi dậy nguồn sức mạnh tiềm tàng ẩn dấu đằng sau “sự phục tùng tiêu cực” của những người dân áo vải, thức tỉnh ý chí đấu tranh kiên cường của cả một dân tộc. Và thế là, “Nước Việt Nam từ máu lửa, rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.
Bản án chế độ thực dân, cuối cùng cũng được thi hành.
Kẻ nhân danh “khai hóa văn minh”, cuối cùng đã bị chính ánh sáng của nền văn hóa dân tộc bản xứ khuất phục.
Kẻ nhân danh “công lý” mà làm bao chuyện bạo tàn, cuối cùng cũng phải cúi đầu trước công lý và chính nghĩa.
Kẻ nhân danh “tự do”, đi tước đoạt quyền tự do của các dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam, cuối cùng cũng phải công nhận một nước Việt Nam tự do độc lập.
Và như một dòng chảy tất yếu của lịch sử, ngày 14.12.1960, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc chính thức ra bản Tuyên ngôn trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa và đến ngày 12.12.1970, Nghị quyết Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, với không một phiếu chống nào, đã trịnh trọng tuyên bố: Khẩn thiết chấm dứt một cách mau chóng và vô điều kiện, chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức và mọi biểu hiện.
Đây là một minh chứng hùng hồn cho chiến thắng của tư tưởng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới, chứng minh sức mạnh của chân lý và chính nghĩa đối với những tội ác dã man và phi nhân tính của đế quốc thực dân. Thắng lợi của dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh đã kết thúc một chương đen tối trong lịch sử nhân loại và mở ra kỷ nguyên mới cho các dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội./.